Quy hoạch - Định hướng Quy hoạch - Định hướng
Huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội
05:24 | 08/03/2012 Print   E-mail    

 Ngay từ ngày thành lập, cơ cấu lệnh tế của tỉnh đã được hình thành theohướng công nghiệp dịch vụ - nông nghiệp...Đây là cơ cấu hợp lý được giữ vững trong suốt 12 năm qua và có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP

 Nếu tính cả dầu khí, năm 1996 ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng 75,7%, dịch vụ chiếm 18,9%, nông nghiệp 5,4%; năm 2000 công nghiệp tăng lên 81,6%, dịch vụ giảm xuống 14,4%, nông nghiệp 4%. Nếu trừ dầu khí các năm đầu giai đoạn 1996-2000 cơ cấu là : Dịch vụ 48,6%; công nghiệp 37,6%, nông nghiệp 13,8%; đến năm 2000 cơ cấu kinh tế chuyển dịch như sau: Công nghiệp 47,2%, dịch vụ 41,2%, nông nghiệp 11,6%.

 

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 1992 - 2001, không kể dầu khí tăng bình quân 18,06%/năm. Quy mô GDP năm 2001 kể cả dầu khí gấp 3,7lần so với năm 1992. GDP bình quân đầu người năm 2001 gấp 3,5 lần so với năm 1992. Riêng 6 tháng đầu năm 2003 tốc độ tăng trưởng đạt 12%. Các ngành kinh tế như công nghiệp, thương mại - dịch vụ , du lịch, xuất khẩu, sản xuất nông-lâm nghiệp đều có mức tăng trưởng cao. Nhờ kinh tế phát triển mạnh nên các mặt văn hóa – xã hội đã có nhiều bước chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, an ninh quốc phòng ổn định, chính trị được giữ vững...

 

Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, phát huy tiềm năng và những kết quả đã đạt được, phương hướng phát triển có tính chiến lược của tỉnh trong giai đoạn 2001 - 2010 đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần III xác định như sau: Huy động mọi nguồn lực của địa phương, hợp tác chặt chẽ với các ngành, các địa phương khác đồng thời ra sức thu hút vốn đầu tư của nước ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đồng bộ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng tỉnh thành một tỉnh công nghiệp có cơ cấu kính tế công nghiệp - dịch vụ- nông nghiệp. Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội, đào tạo nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, thu hẹp dần khoảng cách giữa đô thị và nông thôn; bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội với bảo vệ môi sinh.

 

Xây dựng Bà Rịa - Vũng Tàu thành một tỉnh công nghiệp

 

Mục  tiêu tổng quát trong 10 năm đầu của thế kỷ 21 là: Phấn đấu đến năm 2010 Bà Rịa – Vũng Tàu trở thành một trong những trung tâm công nghiệp dịch vụ du lịch và khai thác hải sản của khu vực và cả nước, một thương cảng quốc gia và quốc tế.

Đến năm 2010, cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh cả dầu khí như sau: Công nghiệp 79% - 80,2%, Dịch vụ 17,4% - 18,5%, nông nghiệp 2,3% - 2,5%. Tốc độ tăng GDP hàng năm là 12,5% - 13.1% (kể cả dầu khí). Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt 2,3 tỷ USD, năm 2010 đạt 3,2 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 là 4074 USD (kể cả dầu khí).

Trong giai đoạn 2001 - 2005 mục tiêu được đặt ra là động viên tối đa các nguồn lực sẵn có của toàn xã hội cho đầu tư phát triển, phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao và bền vững. Lựa chọn sản phẩm có lợi thế so sánh để tập trung đầu tư, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành kinh tế. Giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc: việc làm, công bằng xã hội, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường khả năng bảo đảm an ninh quốc phòng, ổn định trật tự xã hội.

Cụ thể trong 5 năm tới, GDP tăng bình quân 14,7%; huy động vốn đầu tư toàn xã hội phấn đấu đạt 43 .576 tỷ đồng, tăng gần 3 lần so với giai đoạn 1996 - 2000, trong đó vốn do Trung ương quản lý là 18.350 tỷ đồng, vốn địa phương 6.020 tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài 19.206 tỷ đồng. Tỉnh phấn đấu đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng các ngành kinh tế như sau: Công nghiệp tăng bình quân 10,1%/năm, xây dựng tăng bình quân 29,16%/năm, Dịch vụ tăng 13,5%/năm, nông nghiệp tăng 4,8%/năm.

 

Nhiệm vụ những năm đầu thể kỷ XXI

 

Để đạt được những mục tiêu nói trên, các ngành và lĩnh vực then chốt được định hướng phát triển như sau: Tập trung phát triển có chọn lọc các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh về sử dụng tài nguyên, vị trí địa lý, phù hợp với điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, có khả năng phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả hoặc sử dụng nhiều lao động như: Công nghiệp dầu khí, dịch vụ dầu khí, phụ trợ các khu công nghiệp, các ngành công nghiệp sử dụng khí đất, công nghiệp chế biến hải sản, nông sản, sản xuất vật liệu xây dựng, đóng sửa tàu thuyền, sản xuất giầy da, may mặc xuất khẩu. Trong giai đoạn 2001 - 2005 tỉnh tập trung thu hút đầu tư một số dự án chủ yếu: Hoàn thành đồng bộ các dự án khí điềm đạm, nhà máy sản xuất thiết bị màng lọc, hóa phẩm phục vụ khoan thăm dò dầu khí, sản xuất gốm sứ, khí hóa lỏng, nhà máy đóng tàu vỏ nhựa, chế biến nước trái cây đồ hộp thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc, mở rộng sản xuất giầy da xuất khẩu, may xuất khẩu, mở rộng khai thác và chế biến đá xuất khẩu.

 

Hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng và đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp đã được thành lập và đang đầu tư dở dang như: Khu công nghiệp Đông Xuyên, Phú Mỹ 1 , Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân B, triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Mỹ Xuân A2.

 

Trong lĩnh vực dịch vụ, ưu tiên đầu tư xây dựng hoàn chỉnh trung tâm in thương mại thành phố Vũng Tàu, nâng cấp và mở rộng chợ Vũng Tàu, dự án cáp treo Vũng Tàu, tiếp tục nâng cấp hoàn chỉnh bãi tắm Thùy Vân, xây dựng khu công viên Bãi Trước, trung tâm du lịch Bãi Trước, khu du lịch Chí Linh, Hồ Tràm, suối nước nóng Bình Châu, khu du lịch Kỳ Vân, du lịch sinh thái Côn Đảo.

Phát triển mạnh dịch vụ vận tải đường bộ và đường thủy đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách. Cải tạo nâng cấp hiện đại hóa hệ thống cảng hiện có, tận dụng tối đa các điều kiện về địa lý để xây dựng các cảng mới hình thành hệ thống cảng hợp lý cả về công suất lẫn trọng tải.

 

Về nông nghiệp, lựa chọn và hướng sản xuất nông nghiệp vào những loại cây lâu năm dùng để xuất khẩu và làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp dịch vụ. Đầu tư phát triển thủy lợi, đưa tiến bộ khoa học vào  nôngnghiệp, đẩy mạnh khuyến nông, đưa giống mới vào sản xuất, tổ chức tốt công tác thú y, bảo vệ thực vật....

 

Các dự án đầu tư phát triển nông nghiệp chủ yếu trong 5 năm (2001 - 2005) gồm: xây dựng các hồ thủy lợi Châu Pha, Gia Hóp 2, Tà Lùng, Suối Tếch, Bình Châu, Đá Đen, Sông Ray, Bàu Ngứa...; đê Phước Hòa, cải  tạo sông Dinh, kè đá Phước Tỉnh; kiên cố hóa kênh mương: Sông Ray, sông Dinh. hồXuyên Mộc, hồ Tầm Bó, hồ Châu Pha... Xây dựng 2 1 hệ thống cấp nước nông thôn, tiếp tục thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng...Đối với lĩnh vực hải sản, tiếp tục điều tra khảo sát và lập quy hoạch nuôi trồng thủy sản, đẩy mạnh thực hiện chương trình đánh bắt xa bờ, phát triển các loại hình dịch vụ bảo quản sản phẩm đồng thời đầu tư mạnh cho công nghiệp chế biến.

 

Giai đoạn này sê triển khai các dự án nuôi trồng thủy hải sản tại Bà Rịa, Lộc An, An Ngãi, Phước Thuận, Bình Châu; hàng năm đóng mới khoảng 80 - 100 tàu đánh cá xa bờ; nghiên cứu việc đóng mới tàu dịch vụ hậu cần nghề cá ngay trên biển. Xây dựng mới Cảng cá Bến Cát, hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá tại Lộc An, Bến Đầm, xây dựng thêm 1 - 2 nhà máy chế biến hải sản cao cấp xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2005, sản lượng khai thác hải sản đạt 170.000 lấn, sản lượng nuôi trồng đạt 5000 tấn, sản lượng chế biến xuất khẩu đạt 1 8 .000 tấn, giá trị hải sản chế biến xuất khẩu đạt 80 triệu USD.

 

Ngoài ra, các lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, kinh tế đối ngoại và hợp tác đầu tư, giáo dục đào tạo và dạy nghề, khoa học công nghệ và môi trường, văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao và các lĩnh vực xã hội cũng tiếp tục được đẩy mạnh phát triển theo chiều sâu, làm cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội toàn diện và bền vững.

 

Với những tiềm năng sẵn có, nhiều nguồn lực mới đã và đang hình thành, chắc chắn Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ đạt được những mục tiêu nêu trên, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.